Home Blog Page 39

LINH HỒN TRONG THẾ GIỚI QUAN – KÌ 1: NHẬN THỨC VỀ LINH HỒN

Chúng ta thường hay nói về linh hồn. Con người có 2 phần: phần hồn và phần xác. Mỗi người đều có một linh hồn riêng. Cuộc hành trình hướng về linh hồn đặc thù cá nhân là nét đặc trưng, giúp chúng ta phân biệt loài người với giới động vật, giới thực vật và khoáng vật vô cơ. Đó là tại sao chúng ta gọi mình là “con người” – có phần người, nhưng vẫn còn giữ phần con. Và cũng chính vì là “người”, nên duy chỉ chúng ta mới có trải nghiệm về linh hồn đặc thù cá nhân. Đây chính là chìa khoá then chốt tạo ra ưu thế, sức mạnh lớn nhất của con người: Tư duy sáng tạo.

download
(ảnh từ Internet)

Tiến trình chuyển hoá của linh hồn trải qua các cấp độ nhận thức khác nhau. Tiến trình này diễn ra như sau:

Giới động vật không có linh hồn đặc thù cá nhân. Chúng chỉ có linh hồn nhóm. Mỗi con vật là một phần của linh hồn nhóm. Ví dụ: mỗi con ngựa là một phần của linh hồn nhóm “loài ngựa” (nên có câu: Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ), mỗi con sói là một phần của linh hồn nhóm “loài sói” (có thể thấy tính tổ chức bầy đàn của loài sói rất cao). Linh hồn nhóm không giống với linh hồn cá nhân.

download (1)
Linh hồn nhóm “Loài sói” (ảnh từ Internet)

Trong giới động vật, có những thang độ thể hiện mức độ thông minh và khả năng nhận thức. Chẳng hạn, linh hồn loài cá heo, loài ngựa, loài chó không có cùng bước sóng như nhau. Ý thức (trí thông minh) của loài cá heo gần với ý thức của loài linh trưởng, và kế đó mới đến loài chó, ý thức của loài ngựa ở mức độ thấp hơn. Rất có thể linh hồn loài người được hình thành thông qua sự tiến hoá của nguồn năng lượng tập thể từ linh hồn loài vật.

Con người là một hệ thống năng lượng cá nhân, một cá thể vi mô thuộc về một tập hợp vĩ mô (loài người). Là một phần của tập thể, bạn có sức mạnh của vĩ mô nhưng được thu nhỏ quy mô năng lượng lại cho tương thích với dạng thức vật chất (cơ thể và bản ngã). Khi chúng ta nói về việc các linh hồn đi vào cõi trần này để chữa lành, để cân bằng năng lượng của mình, để giải quyết món nợ Nghiệp, chúng ta đang đề cấp đến Sự tiến hoá của sự sống trên Trái đất. Có những linh hồn chưa bao giờ được trải nghiệm làm người. Nhưng không nhất thiết phải nếm trải qua kinh nghiệm của các cấp thấp hơn đề tăng bậc. Mà nếu có thì rất đáng được hoan nghênh.

(tham khảo: The Seat of The Soul – Gary Zukav, bài viết trên Internet)

***Đón xem kỳ 2: Sự hình thành và phát triển của linh hồn 

Content Protection by DMCA.com

TRẢI BÀI TAROT – KÌ 1 – DÙNG TRẢI BÀI KHI NÀO?

Quay trở lại những năm 60, một số chuyên gia nghiên cứu huyền học phương Tây đã tiếp cận với Tử Vi (I Ching), và bỏ ra hàng giờ đồng hồ tranh luận không ngừng nghỉ về bản chất Tử Vi hoạt động như thế nào. Chúng ta cũng đặt câu hỏi tương tự trước khi tung một đồng xu hoặc chiếc gậy làm bằng cỏ thi (Achillea: một loại hoa họ Cúc). Có phải chăng việc tiên đoán sẽ chính xác hơn nếu chúng ta dùng những đồng xu của Trung Quốc hay bất kỳ đồng xu nào cũng chính xác? Và còn cây gậy cỏ thì thì sao? Liệu rằng một cây tăm cũng có thể dùng để tiên đoán?

download

 

Trải qua sau hơn 1/4 thế kỉ, câu trả lời có vẻ đã rõ ràng và điều này có thể áp dụng cho mọi hệ thống tiên tri hay bói toán, đặc biệt là Tarot. Bạn có thể đặt câu hỏi hoặc không. Bạn có thể lựa chọn bất kỳ bộ bài nào miễn là bộ bài dừng phàn nàn về bạn. Một số trải bài tarot sẽ hiệu quả, nhưng cũng có thể không.

Vấn đề là: Tarot, như Tử Vi, xem chỉ tay hay bói trà, là một phần của hệ thống đức tin. Các trải bài vốn dĩ đã là một phần của Tarot cũng như Tử Vi bản chất là các lá số. Cả hai hình thức đều là các dạng đồ hình. Giải mã các đồ hình, bạn sẽ khám phá ra câu trả lời. Tôi sẽ phân chia các trải bài thành hai khía cạnh: một là các vấn đề liên quan mật thiết đến cuộc sống thực tế hằng ngày, hai là các vấn đề bao quát về đời sống thể chất – tinh thần dẫn dắt chúng ta đến thế giới tâm linh mà chúng ta tìm kiếm.

Về người mà bạn sẽ tiếp xúc và giải bài

Cho dù người bạn giải bài có trả tiền cho bạn hay không, tất cả họ đều muốn chung một thứ từ bạn: các câu trả lời. Độ chính xác của câu trả lời càng cao, mức độ hài lòng đối với bạn càng nhiều và bạn sẽ cảm thấy tự hào hơn khi gọi mình là một Tarot reader (người đọc bài). Những trải bài được thiết kế để giúp bạn dễ dàng tiếp nhận các câu trả lời về các khía cạnh thường được mọi người quan tâm nhất: chỗ làm và nghề nghiệp, tình yêu và các mối quan hệ trong gia đình hay với bạn bè, sức khoẻ, tài chính, các vấn đề tâm linh. Có một thực tế mà chúng ta phải nhìn nhận, đó là đọc bài qua mạng xã hội hay qua điện thoại: Một trong những cách đọc bài và giải bài khó chịu nhất mà tôi từng gặp, bởi vì bạn tiếp xúc “lạnh” với khách hàng.

Bạn hầu như không thấy được thể hiện ngôn ngữ cơ thể hay biểu cảm trạng thái cảm xúc trên khuôn mặt khách hàng khi bạn đang đưa ra các nhận định ảnh hưởng lớn tới cuộc sống của họ. Điều duy nhất thể hiện thái độ của họ đó là câu chào nghe tựa máy trả lời tự động của tổng đài điện thoại. Cho dù những khách hàng đó sẵn sàng bỏ ra 100,000 cho một phút lắng nghe câu trả lời từ bạn, nhưng trong vòng 60 giây nếu bạn không gây sự chú ý, người gọi sẽ gác máy. Với tình huống này, các trải bài tarot thông thường phải ngắn gọn hơn những dạng khác, làm sao để đánh giá vấn đề một cách nhanh nhất. Khi bạn đã gây được sự chú ý, sử dụng một trải bài dài hơn, phức tạp và đề cập về những điều huyền bí ẩn sâu trong cuộc đời của họ.

download (1)

Vẻ đẹp của Tarot, đó là khi các bạn sử dụng các trải bài Tarot, nó sẽ cung cấp thông tin cả về các khía cạnh trần tục cũng như cả về những ẩn chứa huyền bí thiêng liêng. Quan trọng hơn, tính cách, đạo đức hay hình ảnh con người của bạn sẽ thể hiện qua cách bạn trả lời và ngôn từ được sử dụng. . Hãy sử dụng trực giác của bạn, và lắng nghe từ các lá bài.

***Đón xem: Kỳ 2 – Khó khăn khi dùng trải bài trong Tarot

 

Content Protection by DMCA.com

Phân biệt giữa bài Tarot và Oracle

Trong suốt hơn 30 năm giảng dạy và giải bài Tarot, Tôi đã may mắn gặp được nhiều người biết trân trọng và yêu thích các lá bài. Tuy nhiên, có một chủ đề trong thời gian này dường như là một sự nhầm lẫn phổ biến nhất – Các lá bài Oracle và Tarot.
Những người mới bắt đầu tìm hiểu các lá bài sẽ thấy khó khăn trong việc chọn lựa. Họ muốn biết loại nào tốt hơn, hoặc tại sao lại có những loại bài khác nhau. Dễ hiểu thôi, bài Tarot và Oracle thường được bán cùng nhau trong các cửa hàng nên có thể đoán được là chúng tương tự  nhau.

shop

Đầu tiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng: không có dạng bói toán nào tốt hơn hay dở hơn những dạng khác. Chúng đều được in trên các lá bài và được sử dụng một cách tương đương nhau (cũng đều phải xáo bài và trải trên một mặt phẳng), nhưng chúng theo hai phong cách giải đoán khác nhau. Tôi đang sử dụng cả bài Tarot VÀ Oracle, và mỗi loại đều có một vị trí tâm linh đặc biệt trong cuộc sống tôi. Tôi chắc chắn rằng một khi bạn nhận ra các điểm khác nhau giữa chúng thì bạn cũng sẽ như tôi, sẽ giữ chúng trong các hộp công cụ  giải đoán của bạn và yêu quý chúng nhiều như tôi vậy.

tarot va oracle

Tôi có thể tóm lược sự khác nhau giữa các lá bài Tarot và Oracle trong hai yếu tố then chốt: cấu trúc và mục đích.

Việc hiểu cấu trúc của một bộ bài Tarot hay Oracle rất quan trọng, và bạn sẽ nhận ra một số điểm khác biệt.

shop-pics-013-400

Một bộ bài Tarot truyền thống có tổng cộng 78 lá, được chia thành Major Arcana và Minor Arcana. Major Arcana là 22 lá bài về sự nhận thức ở mức độ cao, được đánh số từ 0 (The Fool) đến 21 (The World). Những là bài này thường được phân loại bởi một chữ số La Mã và một tựa tên, như  XIV Temperance, XII The Hanged Man, và VIII Strength. Major Arcana là những lá bài về sự nhân thức nhân – quả / mức độ cao. Chúng chỉ đến những vấn đề chính trong cuộc sống của chúng ta. 56 lá bài còn lại trong Tarot được gọi là Minor Arcana – các lá bài hướng đến những chi tiết trong một giải bài. Minor Arcana có 4 suit (Cups, Wands/Rods, Pentacles/Coins, Swords/Staves) Mỗi suit gồm các lá bài được đánh số từ Ace đến 10, và có 4 lá court cards (King, Queen, Knight, Page).

Các lá bài Oracle có ít cấu trúc hơn. Số lượng lá bài mà tôi đã thấy được, nhiều nhất là 90 lá và ít nhất là 10 lá. Những bộ Oracle thường theo một chủ đề, Tiên (Fairies), hệ thống văn hóa, pháp thuật, động vật, các vị thần (Gods/Goddess), thiên thần, hoặc về sự hoàn thiện bản thân.

Magical-messages-from-the-fairies-oracle-cards

Mục đích của mỗi dạng giải bói là yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn sử dụng. Trừ khi bạn chọn chỉ sử dụng duy nhất Major Arcana, Tarot hướng đến việc mang lại nhiều chi tiết hơn và ít thông tin về tâm linh / nhân quả / nghiệp chướng / cuộc sống trong việc giải bài. Điều này có thể rất hữu ích khi bạn muốn làm rõ trong một tình huống cụ thể. Các biểu tượng trong Tarot cũng rất quan trọng vì những màu sắc, hình ảnh, con số cụ thể đều là một phần của ý nghĩa trong mỗi lá bài.

Mặt khác, những lá bài Oracle cũng gần giống như một bộ Major Arcana lớn – chúng là tất cả các bài học cuộc sống và những ý nghĩa trừu tượng. Chúng đòi hỏi ít sự giải nghĩa hơn và rất dễ hiểu. Hệ thống biểu tượng trong các lá bài ít mơ hồ hơn, đôi lúc giúp người đọc dễ dàng hơn trong việc giải đoán.

arch1

Ngoài ra, không có dạng bộ bài nào tốt hơn nhau, đơn giản là vì chúng khác nhau. Nói rằng các bộ bài Tarot và Oracle giống nhau cũng giống như nói rằng một viên đá tinh thể thạch anh tím giống với một viên đá Lapis Lazuli (đá thanh tẩy, màu xanh da trời đậm). Rõ ràng, rất trần tục, cả hai đều là đá về mặt lý học. Tuy nhiên, nếu bạn xem xét cấu trúc của chúng qua kính hiển vi, bạn sẽ nhận thấy rằng chúng cấu tạo khác nhau và mang những nguồn năng lượng rất khác nhau! Vẫn vậy, bạn có thể sử dụng mỗi viên đá này trong các nghi thức tâm linh, cả hai đều dành cho công việc thanh tẩy và bùa chú. Không có loại đá nào tốt hơn nhau, nhưng chúng phù hợp với những việc khác nhau.

Vậy, khi nào sử dụng một bộ Tarot và khi nào sử dụng các lá bài Oracle? Cá nhân tôi, tôi dựa theo tình huống và người mà tôi đang giải bài để xác định nên sử dụng loại bài nào. Hãy nhớ rằng những lá bài Oracle thích hợp cho những ý tưởng lớn, cho bạn cái nhìn bao quát mọi vấn đề, và những lá bài Tarot có thể cho bạn đi sâu vào chi tiết. Những lá bài Oracle có thể mang lại cho bạn một “bức tranh” rất lớn, trong khi Tarot có thể giúp bạn về chi tiết và cụ thể. Bạn đang giải bài cho ai và về điều gì? Liệu vấn đề bạn đang giải đoán là vấn đề trần tục hay tâm linh sâu sắc? Cuối cùng, điều này phụ thuộc vào quyết định của bạn chọn công cụ nào phù hợp cho tình huống bạn cần giải quyết.

Cách tốt nhất để biết được nhiều hơn về các công cụ này là chọn cách làm việc cùng lúc cả hai loại bài. Hãy luyện tập với chúng; sử dụng chúng cho chính bạn và những người bạn của bạn. Hãy xem xét những dạng thông điệp mà chúng mang lại cho bạn và cách thức trực giác của bạn tương tác với mỗi hệ thống bài này. Bạn có thể áp dụng cho những tình huống / con người khác nhau và thực hiện cả hai giải bài Tarot và Oracle – hãy xem xét cách thức mỗi bộ bài truyền tải cho bạn về tình huống. Ghi chú lại những cảm nhận của bạn và bộ bài nào bạn cảm thấy đúng hơn.

Thêm một lần nữa, không có dạng bài nào tốt hơn dạng nào. Nhưng một người reader giỏi sẽ hiểu được những công cụ mà người ấy sở hữu và sử dụng công cụ tốt nhất dựa theo nhu cầu của họ. Đừng ái ngại những bộ Tarot hay Oracle vì bạn hiểu sai về chúng. Chúng đều là những hệ thống giải đoán đáng yêu và cũng là những công cụ hoàn hảo!

Theo Kaerwyn Silverwood (HPS of Coven DragonVeil)

Dịch bởi:  Mystic House

Content Protection by DMCA.com

Trải Bài Sự Kiện

Đây là trải bài thông dụng nhất. Trải bài này được dùng để coi rất nhiều dạng câu hỏi: yes/no, công việc, tình cảm, đưa ra tiêu điểm, hỏi về 1 sự việc, sự vật, … Trải bài này còn được gọi là trải bài lấy sự kiện. Vị trí trải bài: lá 1 trên cùng, lá 2 bên trái, lá 3 bên phải đối với reader.

Trải bài ba lá

Lá số 1 sẽ nói về tiêu điểm chính của quẻ bài, giống như trải bài 1 lá. Lá tiêu điểm sẽ nói khẳng định, hoặc phủ định vấn đề yes/no mà câu hỏi đưa ra.

Ví dụ câu hỏi đưa ra rằng: “Tôi có đậu đại học hay không?”. Lá 1 lên là lá The Tower XVI. Ý nghĩa của lá The Tower là sự sụp đổ, sự thất bại. Do đó, câu trả lời là “Không”. Còn nếu lá 1 lên là lá “Five of swords”, câu trả lời cũng là “Không”, bởi vì “Five of swords” cũng là lá nói về sự thất bại từ trong tư tưởng, nhận thức và những nguồn kiến thức. Trong trường hợp lá 1 là lá “Six of Swords”, câu trả lời là “Có. Bạn có cơ hội. Cơ hội đang đợi phía trước của bản thân bạn”

Lá số 2 sẽ nói về sự việc tiêu cực của tiêu điểm, tức là tiêu cực của lá thứ 1. Ví dụ: lá 1 là lá The Tower XVI, lá 2 là lá “King of wands”. Lá “King of wands” là một người đàn ông có những hành động rất cương trực, mạnh mẽ, là người đứng đầu, là người có khả năng lãnh đạo. Đối với câu hỏi “Tôi có đậu đại học hay không?” thì bạn sẽ hình dung người đàn ông này là ai? Có thể là giám thị hoặc cao hơn giám thị, có thể là kiểm soát viên. Nhưng đây là nói về tiêu cực, nghĩa là bạn có thể người đàn ông này chú ý đến, đây là một người đàn ông rất là liêm minh. Do đó, nếu bạn sử dụng bất kỳ mánh khóe nào trong kỳ thi thì cũng sẽ bị phơi bày, nên mình sẽ đưa cho họ lời khuyên là “Hãy trung thực đối với bài thi của bản thân mình”. Áp dụng tiêu cực “King of wands” của “The Tower” XVI, nghĩa là “Bạn sẽ gặp sự thất bại trong kỳ thi này bởi một người đàn ông. Người đó sẽ bắt được bạn khi bạn có những trò gian dối”. Còn với tiêu cực “King of wands” của “Six of Swords”, nghĩa là “Bạn sẽ được nhắc nhở bởi một người đàn ông”, nó giảm bớt cái phần tội xuống bởi tiêu điểm mình đã chắc chắc người này sẽ đậu, nhưng mình sẽ nói cho họ biết rằng họ sẽ bị nhắc nhở và chú ý.

Lá số 3 sẽ nói về mặt tích cực của tiêu điểm, tức mặt tốt của quẻ bài đó, tiêu điểm đó. Ví dụ: lá 3 là “Seven of Pentacles” với lá 1 là “Six of Swords”, lá 2 là “King of wands”, nghĩa là “Vốn dĩ những gì bạn đang có, bạn sẽ có được sự may mắn, ăn hên mặc dù trong kỳ thi đó bạn bị nhắc nhở, tuy nhiên bạn vẫn có thể vượt qua được nó. Hãy cứ thanh thản đi”. Còn nếu lá 3 lên lá “The Tower” XVI thì nghĩa là “Đừng vội bối rối, bàng hoàng khi tiếng chuông báo kỳ thi kết thúc dù bản thân bạn không hoàn thành tốt bài thi bản thân bạn mong đợi. Nhưng khi điểm thi có thì nó cao hơn điểm trung bình và hoàn toàn có thể đậu được”.

Cách trải bài 3 lá còn nói được rất nhiều vấn đề. Ví dụ như nói về những vấn đề về thời gian. Trong những lá bài có những mốc thời gian sẵn định rồi, chúng ta chỉ cần sắp xếp lại cho đúng trật tự và áp đặt trên những lá bài. Lá 1 là tượng trưng cho năm, lá 2 là tượng trưng cho tháng, lá 3 là tượng trưng cho ngày. Chúng ta sẽ dựa trên cung hoàng đạo của từng lá bài để xét.

Với năm chúng ta sẽ dựa trên quỹ đạo như sau: hỏa, the fool là trong năm nay; thủy là trong năm sau; khí là hơn 2 năm nữa; đất là hơn 5 năm nữa; còn với bộ ẩn chính, số năm sẽ biểu hiện trên con số của lá bài, khi lá ẩn chính ngược thì số năm bị chia 2. Lá ẩn chính xuất hiện ở lá 1 thì mình mới khẳng định, 2 và 3 thì mình không khẳng định. Điều đó sẽ làm cho mình có 1 sự chắc chắn hơn đối với quẻ bài mình đang lên. Những lá phụ là phải xuôi. Nếu ngược hết thì không coi được. Cũng có khi chỉ coi được năm chứ không coi được ngày và tháng.

Mình phải là người hướng dẫn câu hỏi cho người hỏi. Ví dụ như “Ngày 18/05/2014 tôi có thể làm đám cưới với cô ấy hay không?”, mình sẽ đảo ngược câu hỏi là “Sự kiện diễn ra vào ngày 18/05/2014 sẽ diễn biến ra sao với hai người có ngày tháng năm sinh …., bản thân họ sẽ diễn ra 1 đám cưới thì đám cưới đó có thành hay không và nó sẽ diễn biến như thế nào?”

Content Protection by DMCA.com

Sự hình thành của Bốn Nguyên Tố

FOURRoyalStarsFOURElementsfromPhilo

Âm dương thì luôn hòa hợp luôn nhưng khắc nhau vì dương động tức khắc âm tĩnh, nhưng quá động sinh tĩnh thành âm, nhưng quá tĩnh sinh động thành dương.

  • Dương là tính nhiệt
  • Âm là tính hàn

Khi nhị nguyên hòa hợp sẽ sinh ra tứ tượng:

  • Thanh âm ký hiệu _ _
  • Thanh dương ký hiệu ___

Âm dương hòa:

  • Dương hòa dương sinh thuần dương, mang tính chất nhiệt hỏa gọi là hỏa tính.
  • Dương hòa âm có dương đứng đầu, sau là âm mang thuộc tính khí.Vì thế nhiệt là giãn nở thể tính hàn nên làm luân chuyển không khí.
  • Âm hòa âm sinh ra 2 thể âm chồng lên nhau tượng trưng cho tính thủy vì hàn + hàn sinh ra vận động, trong tĩnh có vận động tức là thể lỏng.
  • Âm hòa dương thanh âm đứng trên thanh dương đứng dưới, tượng trưng cho tính thổ vì ngoài tính hàn tính cứng trong nhiệt tính dẻo nên tượng trưng cho đất.

Cấu tạo hữu hình của bốn yếu tố:

FourelementsandChrist_16thcenturywo

  • Yếu Tố Lửa:

Lửa hay sự cháy là quá trình biến đổi hóa học (thường là phản ứng ôxy hóa) nhanh của vật liệu, tỏa ra nhiệt, các sản phẩm phản ứng và phát ra ánh sáng.

Ngọn lửa là một phần biểu hiện thấy được (phát ra ánh sáng) của sự cháy. Nó tạo ra từ các phản ứng hóa học có sự tỏa nhiệt cao (cháy, phản ứng oxy hóa tự duy trì) diễn ra trong môi trường hẹp. Ngọn lửa là một trạng thái tồn tại của vật chất và được xếp như một loại khí plasma – bị ion hóa một phần. Để sự cháy xảy ra, phải cần và đủ 3 yếu tố, đó là: chất cháy, ôxy và nguồn nhiệt. Thiếu một trong các yếu tố trên hoặc các yếu tố trên không đủ thì sự cháy sẽ không xảy ra. Mỗi chất khác nhau có nhiệt độ bốc cháy khác nhau.

  • Yếu Tố Khí:

Các chất khí là tập hợp các nguyên tử hay phân tử hay các hạt nói chung trong đó các hạt có thể tự do chuyển động trong không gian. Lực tương tác giữa các hạt rất yếu, và các hạt chủ yếu tương tác với nhau qua va chạm ngẫu nhiên, hoặc với thành chứa. Các hạt chuyển động với tốc độ và hướng ngẫu nhiên, và các vận tốc của các hạt chỉ thay đổi đáng kể thông qua các va chạm ngẫu nhiên với nhau hoặc với thành vật chứa.

  • Yếu Tố Đất:

Trái đất ta ở có sông ngòi, có biển cả, có núi non, có thung lũng… nhưng trên hết có đất. Đất giúp cây cối có thể bám rễ vào, đất giữ được nước đủ thời gian để rễ cây có thể hút được nước nuôi thân, nuôi lá, nuôi hoa. Đất cũng chất chứa vô số vi cơ thể để hoàn thành nhiều biến đổi sinh hoá như hủy hoại các động vật chết. Trong đất cũng còn có mối, kiến, giun đất. Và chính nhờ các hoạt động của các loài này mà đất có một đời sống.

  • Yếu Tố Nước:

Nước là một hợp chất hóa học của oxy và hidro, có công thức hóa học là H2O. Với các tính chất lí hóa đặc biệt nước là một chất rất quan trọng trong nhiều ngành khoa học và trong đời sống. 70% diện tích của Trái Đất được nước che phủ nhưng chỉ 0,3% tổng lượng nước trên Trái Đất nằm trong các nguồn có thể khai thác dùng làm nước uống.

Kiến tạo của bốn yếu tố

  • Đối với tự nhiên: Bốn yếu tố lửa, nước, khí, đất kết hợp với nhau tạo ra vạn vật, tạo ra tự nhiên bao gồm sông, núi, suối, ao, hồ, rừng cây, sa mạc. Hồ kiến tạo được hình thành từ sự sụt lún của động đất gây ra ảnh hưởng đến dòng chảy của song, gây gãy khúc hình thành hồ.Núi lửa hoạt động khi các chất khoáng nóng chảy ở nhiệt độ và áp suất cao bị phun ra ngoài do sự tương tác của các yếu tố lửa, khí và đất.
  • Đối với sinh vật: Bốn yếu tố tác động với nhau diễn ra trong thời gian dài tạo nên sự sống, mỗi một loài sinh vật đều mang một hình dáng, cơ thể khác nhau do sự tác động khác nhau của bốn yếu tố lên bên trong và bên ngoài sinh vật. Cơ thể sinh vật là yếu tố đất vì là vật chất, máu trong cơ thể là yếu tố nước, sinh vật hít thở duy trì sự sống là yếu tố khí, năng lượng của sinh vật thể hiện qua hành động là yếu tố lửa. Chim cánh cụt sống ở Nam Cực có cấu tạo cơ thể đặc biệt vì loài chim này chỉ bơi lội trong nước nên cấu tạo cơ thể phát triển theo hướng thích nghi với việc bơi lội. Vì không thể bay được nên cánh của loài này ko phát triển và dần thay đổi theo thời gian.
  • Đối với thực vật: Hệ thực vật cũng chịu những tác động cùa bốn yếu tố lên trên hệ. Thực vật muốn sinh tồn và phát triển cần có sự tác động và ảnh hưởng cùa bốn yếu tố, thực vật cần yếu tố đất để nảy mầm và phát triển, yếu tố nước tiếp thu dinh dưỡng, yếu tố khí giúp cây quang hợp, và yếu tố lửa nội tại bản thân thực vật giúp duy trì sự sống.
  • Đối với con người: Ngoài những yếu tố trên của sinh vật, bản thân con người được bốn yếu tố lửa, nước, khí, đất tác động đến. Yếu tố lửa thể hiện qua hành động, cách thức hoạt động cùa con người. Yếu tố nước thể hiện mặt cảm xúc cùa con người, thể hiện sự e thẹn, sự mạnh mẽ, sự nhạy cảm. Yếu tố đất thể hiện bản chất, sự cố định trạng thái của đất. Yếu tố khí thể hiện cho tư tưởng, suy nghĩ của con người tác động đến cảm xúc, hành động cùa con người.

Cung Hoàng Đạo:

greekcrosszodiaccross

Cung Hoàng Đạo bao gồm 12 Cung được chia ra là bốn yếu tố:

Yếu Tố Lửa: Bạch Dương, Sư Tử, Nhân Mã

Yếu Tố Khí: Thiên Bình, Bảo Bình, Song Tử

Yếu Tố Nước: Cự Giải, Thần Nông, Song Ngư

Yếu Tố Đất: Ma Kết, Kim Ngưu, Xử Nữ

Sự ảnh hưởng cùa 12 Cung Hoàng Đạo lên trên tâm lý và tâm linh cùa con người:

Tâm lý

  • Bạch Dương: Là người thẳng thắn và tỉnh táo. Có tư chất của chính khách. Thích đấu tranh, có lòng dũng cảm. Có khả năng đạt được những điều mình mong muốn. Có năng lực tổ chức, ngăn nắp, say mê công việc, biết cuốn hút người khác làm theo ý mình.
  • Kim Ngưu: Là người coi trọng vật chất. Thích đào sâu đến tận cùng của sự thật. Óc thực tế phát triển cao, chỉ tin vào những sự việc có thật. Dễ nổi nóng, rất thích tiền tài và sành các thú vui.
  • Song Tử: Là người sáng dạ. Có óc quan sát, nắm bắt nhanh được bản chất của sự việc. Hành động mau lẹ, chớp nhoáng có óc phân tích. Phê phán, đa nghi, thiếu nhẫn nại.
  • Cự Giải: Là người bình thản, thích tìm hiểu mọi người xung quanh. Có tài phân tích, xử lí thông tin. Có thiên hướng về tiền bạc, say mê kiếm tiền.
  • Sư Tử: Là người có ý chí mạnh mẽ, quyết tâm cao và không phụ thuộc vào người khác. Khả năng hệ thống hóa vấn đề, trí tuệ tốt. Có năng lực tư duy sáng tạo tuy nhiên thiếu kiên nhẫn.
  • Xử Nữ: Là người hành động theo lý trí, đúng mực cả trong lý trí và hành động. Kiên nhẫn, chính xác, và thận trọng trong suy nghĩ. Tiết kiệm và coi trọng tài sản. Tuy suy nghĩ đúng mực nhưng thiếu quyết đoán.
  • Thiên Bình: Là người có tầm nhìn nghệ thuật, khà năng cảm thụ và cảm xúc thẩm mĩ rõ ràng. Lịch sự và duyên dáng. Thích làm việc một mình. Có khả năng tư duy trừu tượng. Chung thủy trong mối quan hệ. Các mối quan hệ rộng.
  • Thần Nông: Là người có cảm xúc mạnh mẽ, yêu ghét rõ ràng. Luôn luôn dồi dào sinh lực. Có óc phê phán và óc tư duy chiến lược. Luôn hướng đến sự đổi mới.
  • Nhân Mã: Là người có khả năng làm thủ lĩnh. Thẳng thắn tuy nhiên dễ dẫn đến thằng thắn đến mức tiêu cực. Trí tưởng tượng phong phú và thích các hoạt động xã hội. Tôn thờ chủ nghĩa cá nhân.
  • Ma Kết: Là người có ý chí mạnh mẽ, điềm tĩnh, lạnh lùng, nghiêm túc. Có khà năng sáng tạo trong công việc. Thích gây ảnh hưởng lên người khác và thích hưởng thụ khi có điều kiện.
  • Bảo Bình: Là người có khả năng, năng lực lãnh đạo. Thích tự do thoải mái, không thích can thiệp vào việc của người khác. Có khả năng phán đoán và nhìn xa trông rộng.
  • Song Ngư: Là người nhạy càm, ham muốn kiến thức, luôn tìm hiểu và khao khát tri thức, thông tin. Nhạy cảm và giàu lòng nhân ái. Tinh thần vững chắc, trực giác sắc bén, coi trọng tình cảm, sống hòa hợp với cộng đồng. Có lòng thương yêu con người.

Tâm linh

  • Bạch Dương: Bên ngoài Bạch Dương có một vẻ lạnh lùng, thô ráp, nhưng thật chất sâu thẳm bên trong con người họ là sự mộng mơ. Họ biết cách biến những giấc mơ của mình thành sự thật, đây cũng chính là sự khác biệt ở chòm sao này. Họ có một tâm linh mạnh mẽ, mang một dấu ấn riêng và không bị ảnh hưởng bởi các cung hoàng đạo khác.
  • Kim Ngưu: Trực giác là khả năng nổi trội của cung Kim Ngưu. Khi có người đang cố gắng vượt qua rào cản cá nhân để đến với họ, họ có thể cảm nhận được nó. Tuy nhiên, khả năng chính xác về giờ giấc lại chính là sức mạnh tâm linh lớn nhất của họ.
  • Song Tử: Song Tử khá phát triển về trực giác nhưng nhưng đó không phải là điểm nổi bật của họ. Khi quen một Song Tử đủ lâu, khả năng mà khó ai sánh bằng của chòm sao này chính là “nói”. Họ hiểu bạn muốn nói gì dù kể cả khi bạn chưa hoàn thành câu và chỉ cho bạn cách dùng từ chính xác.
  • Cự Giải: Cự Giải để lại ấn tượng đầu tiên rất ấm áp và đầy yêu quý. Bầu không khí và nguồn năng lượng liên tục tỏa ra của chòm sao này, luôn giúp mọi người cảm thấy thoải mái và thư giãn.
  • Sư Tử: Sư Tử có một sức mạnh tâm linh lớn nhất trong 12 cung hoàng đạo. Hãy kể cho Sư Tử nghe bất cứ vấn đề hay rắc rối của bạn, Sư Tử có trực giác rất tốt, họ sẽ nói cho bạn biết việc đó chuyển biến theo chiều hướng tốt hay xấu thông qua giác quan nhạy bén của mình.
  • Xử Nữ: Xử Nữ biết xử lý những rắc rối dù đó là lần đầu tiên họ gặp phải. Chòm sao này biết được người đó đang có khí tốt hay xấu, tìm được cho riêng mình nơi yên tĩnh giữa hai luồng xung khắc.
  • Thiên Bình: Thiên Bình rất lâu  mới xác định rõ được mục tiêu của bản thân, khả năng đặc biệt của thiên bình là mang lại năng lượng, nhiệt huyết cho những người xung quanh. Sức mạnh tâm linh của họ được bọc lộ tốt khi có đủ thanh, hương, sắc.
  • Thần Nông: Thần Nông sinh ra với sức mạnh tâm linh mạnh mẽ. Họ có thể cảm nhận về người khác rất rõ ràng mà không phải cố gắng gì cả. Ngoài ra, sự tiếp nhận thông điệp từ một thế giới khác cũng là khả năng độc đáo của họ.
  • Nhân Mã: Nhân Mã có thể đoán trước được tương lai, nhưng không hẳn mọi vấn đề đều nằm trong dự tính của họ. Vào một khoảng thời gian nhất định, họ biết điều gì đó sẽ xảy ra. Nếu Nhân Mã đang nghĩ về ai thì thì khả năng người đó cũng đang nghĩ về họ cũng không hề thấp đâu.
  • Ma Kết: Cách nhìn nhận cuộc đời của mình chính là sức mạnh tâm linh của Ma Kết. Khi họ muốn bắt đầu phát triển, thì họ sẽ tự mình bắt đầu mọi thứ. Và họ biết thay đổi như thế nào là tốt và lúc nào là phù hợp.
  • Bảo Bình: Với trực giác nhạy bén của mình, Bảo Bình có khả năng cảm nhận đúng với bản chất của nó khi dựa vào những dấu hiệu nhất định. Họ phụ thuộc vào suy nghĩ của người khác khá nhiều.
  • Song Ngư: Song Ngư có xu hướng tâm linh nhất trong 12 cung hoàng đạo. Chòm sao cuối cùng nên sự thấu .hiểu và thông cảm của họ lớn hơn bất cứ ai trên đời này. Họ thường nhận được thông điệp từ những nguồn năng lượng siêu nhiên thông qua giấc mơ.
Content Protection by DMCA.com

7 Chu kỳ tiến hóa Trong Tarot

7 Chu kỳ tiến hóa Trong Tarot

 

Sự Tiến Hoá Loài Người
Chu kì 1: 0
Chu kì 2: I,II, III
Chu kì 3: IV, V
Chu kì 4: VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII, XIII
Chu kì 5: XIV, XV, XVI
Chu kì 6: XVII, XVIII, XIX, XX
Chu kì 7: XXI


Chu kì 1:

0. The Fool

The Fool

Đây là bước chân dung diễn tả linh tánh của chúng ta đang rời khỏi khối đại linh quang toàn giác kia. Khối đại linh quang là khối khí tạo nên dạng vật chất bao quanh toàn vũ trụ trong đó có vũ trụ của chúng ta. Linh tánh còn có thể hiểu theo là dạng phần trí hàm chứa một lượng năng lượng nhất định có dạng cầu khối khí, dân gian còn gọi là linh hồn.
Sự phân tách này là đánh dấu cho một bước ngoặc của linh tánh được đưa xuống hồn trần để phát triển về linh tánh và tiến hóa để khi trở về khối đại linh quang kia chúng phải xứng tầm với trí toàn giác. 


Chu kì 2: 

I. The Magician

The Magican

Đây là bước ngoặc cho sự thay đổi giữa hai chiều hướng âm và dương bước vào giai đoạn kết tụ bốn yếu tố lớn nhất trong vũ trụ. Là khi linh tánh bắt đầu chuyển hóa rơi dần vào khối đại linh quang trải qua một chiều không gian tám phương vị. Bắt đầu linh tánh này tách làm đôi: một âm và một dương thêm vào một thể vía của hồng trần thành ngôi tam tài của thể hồn. Sự chuyển đổi này cũng quyết định linh căn của linh tánh này: cao dày hay nông cạn về thể trí. 


II. The High Priestess

The Hight prietes


Đây là sự chuyển giao khi bước qua cánh cổng âm dương, phần thể tánh bắt đầu lu mờ vào trong sự mâu thuẫn không còn được bao bọc bởi ánh sáng minh triết của khối đại linh quang. Ở giai đoạn này, thể hồn bắt đầu tìm kiếm hoặc chờ đợi nhân duyên để được kết tinh gọi là thể mượn xác. Ở đây cũng sẽ thấy linh tánh bắt đầu học hỏi trong phương diện của vũ trụ này. 


III. The Empress

The Empress


Đây là giai đoạn kết tinh thụ trứng, thể tánh mượn xác của một người nữ làm phần âm, tinh của người nam làm phần dương tạo nên ngôi nhà vật chất gọi là cơ thể. Đây là chu trình tiến hóa thứ hai và cũng là chu trình kết thúc một chu kì tiến hóa bước vào giai đoạn nhiễm trần, không còn được tự do hòa khí với vũ trụ nữa vì sự kết thúc này được đánh dấu khi linh tánh được sinh ra nằm gọn trong thể vật chất. Theo tri thức còn gọi là con người hay gọi là sinh vật sống.


Chu kì 3:
IV. The Emperor

The Emperor


Đây là giai đoạn phát triển khi trẻ sơ sinh bắt đầu có mặt trên thế gian này. Giai đoạn này đứa trẻ như một vị thánh, tri thức vũ trụ toàn năng vẫn còn, gọi là thể trong giao thời. Ở giai đoạn này đứa trẻ có một ngôn ngữ theo một âm điệu, âm hưởng của vũ trụ. Cách mà chúng giao tiếp là trao đổi tần sóng phi thể, bán phi thể làm cầu nối chấp nối thông đạt tri thức cho nên có thể nói đây là giai đoạn bá chủ tức là người có thể thay đổi bất kì một nhận định nào của xã hội vì đơn giản nhận đinh là sinh từ tư tưởng. Người có tư tưởng lớn bao rộng là người có được nhận định.


V. The Hierophant

The hierophant


Đây là giai đoạn đạt được sự thông suốt, chu kì này là chu kì nằm ở tháng mười một và tháng mười hai của đứa trẻ. Chúng quyết định căn số của đứa trẻ này, chuẩn bị cho việc giao thời và chuyển tiếp qua giai đoạn ngoài giao thời. Ở giai đoạn này ta cũng có thể thấy sự đạt ngộ và tần sóng não của đứa trẻ ở mức IQ 800 gấp sáu lần người bình thường, tần sóng của đứa trẻ sử dụng 80% bộ não so với một người trưởng thành, họ chỉ sử dụng được từ 10 đến 30% là tối thiểu. Cho nên có thể nói giai đoạn này đứa trẻ này như một nhà thông thái. Qua tháng mười ba đứa trẻ bước vào giai đoạn chu kì thứ ba, chu kì của mâu thuẫn và thay đổi tâm sinh lý.


Chu kì 4:

VI. Lovers

The Lovers

Đây là giai đoạn bắt đầu có những sự kết nối của các chuỗi dây thần kinh, sự phát triển vật chất và tế bào bên trong cơ thể dần tiến hóa tạo nên một luồng khí nóng sộc thẳng vào các nơ- ron thần kinh. Ở giai đoạn này cảm xúc và thần kinh không ổn định, bị rối loạn do luồng khí nóng kia. Trong giai đoạn này thường ta sẽ thấy con người đó, linh tánh đó bắt đầu có biểu hiện bộc lộ cảm xúc, tùy theo mức độ cơ địa và sinh khí ảnh hưởng làm cho kết cấu tư tưởng và cảm xúc nhiều hay ít. Giai đoạn này cũng là giai đoạn mê muội, lầm lạc của cảm xúc và tư tưởng, dễ sinh ra bốc đồng tính hào khí hoặc một sức mạnh không thể kiềm chế.


VII. The Chariot

The Chariot

Đây là giai đoạn của sự phiêu lưu mạo hiểm, bắt đầu hình thành các tư tưởng mâu thuẫn và tái lập mâu thuẫn. Giai đoạn này cơ chế thần kinh bắt đầu phân chia rõ rệt hai bán cầu não, tầng sóng có sự tiến hóa theo phương diện sinh mâu thuẫn. Sự phân biệt được sinh ra từ đây, do ngũ quan mà cấu tạo thành. Ngũ quan là giác quan có thính giác, xúc giác, cảm giác, vị giác, khứu giác. Qua năm giác quan này tư tưởng bắt đầu hình thành nên cấu tạo sự thay đổi vật chất và tiến háo của vật chất, dần lu mờ về phần trí tinh khiết nên có thể nói ở giai đoạn này là giai đoạn phát triển để chuẩn bị cho mớ hỗn độn, loạn xạ tư tưởng và cảm xúc nhằm mục đích lấy lại căn bản nền tảng của cái lý, cái thuyết, và nền tri thức vốn có của linh căn.

VIII. The Strength

The Strength

Đây là giai đoạn bản thể linh tánh cần tập trung cố định tư tưởng từ phần trí đến phần lý và quá trình hình thành cảm xúc ảnh hưởng lên lý trí. Mâu thuẫn của tánh trí càng ngày càng lớn mạnh thì niềm tin của linh tánh càng ngày càng lu mờ nghiêng về một hướng tiêu cực hoá hoặc tích cực hoá tạo thành tiêu cực. Cho nên ở giai đoạn này bản thể linh tánh thường có sự biến đổi đột hoá lý trí và cảm xúc phát triển một cách mạnh mẽ, song song đó cơ cấu địa tầng cũng chịu sự chi phối không ít.
Strength mang một tính chất của sự tiến hoá nghiêng về vật chất ( vật chất ở đây ý ám chỉ các thể hữu hình của sự vật, sự việc, hiện tượng mà có thể thấy bằng ngũ quan ) đây là giai đoạn dậy thì sinh trưởng.


IX. The Hermit

The Hermit

Đây là giai đoạn bản thể linh tánh nhìn nhận lại cái bóng tối bên trong, bản thể linh tánh tự vận dụng cái lý triết của cái minh trí. Linh tánh dần tìm lại các mảng sự việc, sự vật trong thời không của khí tánh. Đây cũng là giai đoạn ẩn sâu bên trong nội thức dần có sự tiến hoá bộc lộ ra cái minh trí hoặc chìm dần trong sự tiêu trí. Trong Tarot, The hermit được ví như một tia hy vọng, một ánh sáng cuối con đường nhằm dẫn lối cho các linh tánh lầm lạc, lu mờ trong cõi u mê mà đang tìm lối thoát. Là một ẩn sĩ ẩn bên trong lá thẻ này cũng cho thấy tận sâu bên trong cái linh tánh luôn có ánh sáng của minh trí là cái ánh sáng của cha đẻ Đại Linh Quang.


X. The Wheel of Fortune

The Wheel Of Fortune

Vòng quay số phận hay trong đạo còn gọi là bánh xe chuyển luân hồi. Đây là giai đoạn tức thời không thiên la bắt đầu kết nối với định duyên nghiệp đối với một linh tánh được hạ đáo trần. Giai đoạn này là giai đoạn biến chuyển kết cấu của sự vật và sự việc bản thể dần lộ rõ ra con đường vận mệnh, số phận được sắp đặt và an bài đúng theo như cái nhân quả mà họ đã gieo trong thời thức hoặc thời không thức hoặc quá thời thức. Giai đoạn này kết cấu sắc tướng của linh tánh dần thay đổi sáng lên hoặc tối đi, dựa vào bản sơ khảo này các nghiệp lực, duyên khởi dần được cấu tạo thành lập thành một chuỗi liên hệ lô-gic tiếp nối. Buộc bản thể đó phải bước trên con đường thử thách chông gai. Vì giới hạn vòng xoay này lớn nên sự chuyển luân hồi luôn lập lại đến khi minh trí của bản thể thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn mâu thuẫn ( tánh phân biệt ).

 

XI. The Justice

The Justice

Đây là giai đoạn mà bản thể linh tánh chịu nhiều sự vùi dập của nghiệp lực cấu tạo trong nhiều thời không. Sự công bình và công lý được biểu hiện rõ trong thẻ bài này cho thấy được không phải là cân bằng mọi thứ mà là đưa mọi thứ về thể cân bằng, trước khi điều đó xảy ra, luôn có hình phạt cho sự sai trái. Duyên lực, nhân quả cấu tạo thành, nếu linh tánh sáng trí do phần căn thời không tỉnh thức sớm có thể kịp thời nhận ra được cái lý công bình này, nếu linh tánh đó tối trí do phần căn thời không thức tỉnh chậm có thể phải chịu thêm nhiều sự trừng phạt khổ đau của nghiệp lực và duyên kết tạo thành mới trở về được trạng thái cân bằng của lý tánh. Đây cũng là giai đoạn bản thể bắt đầu chịu nhiều sự khảo thức do sự đời, người, sự việc liên tục chấp nối thành một chuỗi. Nếu lu mờ, u mê trong cái cảnh khảo này thì không thể sáng trí.


XII. The Hanged Man

The Hanged Man

Đây là giai đoạn bắt đầu chợt nhận ra con đường sáng, đây là quá trình khập khiễn làm cho bản thể linh tánh liên tục có tư tưởng nghi ngờ nhưng tò mò và đa nghi về một kết cấu của tri năng, tri thức chưa được sáng tỏ. Ở thẻ này cho thấy được bản thân linh tánh phải đảo lộn mọi thứ dần kiểm tra, suy xét một cách cẩn thận, cân nhắc nhằm tìm ra cho mình được hướng đi sáng.


XIII. The Death

The Death

Đây là giai đoạn cuối kết thúc của chu kì này. The Death mang hàm ý nói về một cái chết, một sự kết thúc, ở đây có nghĩa là kết thúc con người cũ hoặc phần trí dư thừa cũ ( trí ngu muội, dốt nát, mê lầm ) đã chết. Cho nên có thể thấy một mặt tích cực ở lá thẻ này là sự hồi sinh của một linh tánh nhằm cân bằng mọi thứ.


Chu kì 5 :

XIV. The Temperance

The Temperance

Đây là giai đoạn khởi đầu cho chu kì tiến hoá thứ năm của con người. Trí tuệ dần được phục hồi như một sự thức tỉnh, biết đến cái đúng, cái sai, cái thiện, cái ác. Thẻ này đánh dấu sự cân bằng hoà quyện giữa cán cân hai thái cực của một bản thể linh tánh. Tuy nhiên ở thẻ này cũng nói lên được linh tánh dần rơi vào trạng thái chịu nhiều sự thử thách hơn về phần đời và phần tâm thức, do hai vòng cực âm và dương đang cố gắn trao đổi hoàn toàn lẫn nhau cho nên bước qua được giai đoạn chu kì này là một điều rất khó khăn.

XV. The Devil

The Devil

Thời gian và không gian bị đóng ở giai đoạn khi Devil làm chủ vì bên trên là sự khởi đầu của mâu thuẫn thì đây chính là giai đoạn chịu mâu thuẫn. Giai đoạn này nhằm nối tiếp các chuỗi thần kinh do trung ương não tiếp nhận từ tầng sóng từ vũ trụ, sinh nghiệp tại đây. Đây là bước biến chuyển lớn nhất mà đôi khi một linh tánh bản thể phải mất rất nhiều kiếp luân hồi mới có thể thoát ra được. Tư tưởng lí tánh luôn bị mâu thuẫn gò bó và thúc ép đi đến những kết quả mù mơ do vòng xoay chuyển của vũ trụ chỉ định mà mất phương hướng. Ở Thẻ này có thể thấy được các linh tánh như đang ra vào một cái hố sâu và như chính bản thân nó đang là người đào hố, càng đào càng sâu mà u mê lầm lạc không biết quay đầu nhìn lên để thấy ánh sáng. Sự trói buộc về mặt lí trí này sẽ kéo dài đến khi tánh trí của người dó giảm bớt nghiệp tức họ đang bò lên cái hố họ đào.


XVI. The Tower

The Tower

Đây là giai đoạn của sự thất bại vấp ngã và cũng là giai đoạn của những sự tuyệt vọng đuối sức khi phải bò lên trên chính cái hố mình đào mà không biết khi nào đến đích. Phải vượt qua nhiều sự thử thách của trí và thể xác cũng như tinh thần và tính tự lực. Giai đoạn này quyết định linh tánh ấy có sứ mạng lớn hay bé, căn cốt cao hay nông đều do đây. Vì vốn dĩ quả do trời định khó mà cải, chỉ có thể vượt qua. Cái mà mình tự làm ắt mình tự chịu, hố tự đào thì phải tự chui lên do đó mà thấy được cái tăm tối, cái ánh sáng rõ ràng như thế nào. 


Chu kì 6:

XVII. The Star

The Star


Ở mã thẻ này là sự chuyển tiếp cho một chu kì tiếp theo, đó là sự nương tự và hy vọng vào một chổ dựa vững chắc, như tin vào một vị thánh, một đức tin hay một vị phật đại trí đại giác nào đó có thể cứu vớt cái tánh trí u mê này. Lầm lạc là sự nhận thấy đi sai đường. Quay đầu là sự hối cải cái mình tạo. Chấp nhận là cái phải tuân để hành theo, vì những lý do đó mà giai đoạn này mang rõ đặt trưng giống như sự cứu rỗi do chính tư tưởng mình xây dựng nên chứ chưa hề có một vị thánh nào xuất hiện. Nhưng vì tánh trí là vốn có vũ trụ và tạo ra vũ trụ, nên do tánh trí có tạo ra hình tướng do hy vọng sinh và tin tưởng và hình tướng đó lập tức thời không xuất hiện chư vị như đã tưởng. Bằng cách âm tầng sóng đối lưu với nhau mà tạo nên một liên kết chặc chẽ với các chư vị, tánh trí dần hồi phục thể âm dương điều hoà từ đây. 


XVIII. The Moon

The Moon

Đây là giai đoạn của sự học hỏi tiến hoá. Mượn các phương tiện ánh sáng bên ngoài bù đắp vào cái bóng tối do trí phân biệt và hai chiều mâu thuẫn tạo nên mà thành. Ở thẻ này có sự nhấn mạnh về cái nhận. Nhận ở đây là sự tiếp thu thông suốt không có bản ngã của cái tôi, giả kẻ điên như trẻ con chưa biết gì, như người mù chữ, như kẽ dốt nát để học cái vốn tri năng mà vũ trụ có sẵn. Học ở đây không phải là sáng tạo mà dùng cái trí phàm sáng tạo ra cái vật chất sự việc vốn có trong vũ trụ để bù đắp cho cái trí ngu muội của mình. Người càng thông minh thì phải càng ngu vốn cái thông minh không có thi không có cái ngu, vì ngu nên mới cần học, vì phải học để sau hết ngu. Vậy vốn trong cái bóng tối mà bản thể tạo nên do tánh trí phàm này lưu động phải mượn cái ánh sáng bên ngoài, có sẵn trong vũ trụ để mở dần. Thì cái nhận ở đây là sự tiếp nhận không cần sự trả lại.


XIX. The Sun

The Sun

Đây là giai đoạn của sự thông đạt, đạt đến cùng cực của minh trí, tức trí sáng. Như ánh sáng không ai sáng bằng ngang hàng với cái ánh sáng mà trong vũ trụ tạo. Nhưng do còn là thể chất vật chất ( tức xác thịt phàm tri năng nên chưa thể hoàn thành sứ mệnh ). Mệnh ở đây được gọi là sứ mệnh hay nói cách khác là cái việc vốn phải làm. Vì trí đã sáng nên tánh trí này bây giờ không còn bóng tối để cần ánh sáng nữa, thay vào đó là làm ánh sáng để soi cho những cái bóng tối khác, như kẻ dẫn đường cho con trẻ. Như người mẹ chăm con, và nuôi dưỡng cho đứa con đó thấy được cái ánh sáng vốn có của vũ trụ là tri năng. Ở thẻ này cái việc còn lại của hành giả khi thông đạt được minh triết đến đây chưa hết nhiệm vụ tức chưa về lại được khối đại linh quang toàn năng toàn giác kia, vì ơn của đại linh quang đã soi sáng ta rồi, giờ là lúc làm tròn sứ mệnh đàn anh đi trước dẫn dắt đàn em đi sau.


XX. The Judgment

The Judgement

Đây là giai đoạn của sự vượt ra khỏi ranh giới của sự tồn vong tử. Tức là sự chuyển kiếp luân hồi u mê lằm lạc trong cái cỏi trần tục đầy rẫy những u uất âm trượt này. Giai đoạn này các tánh trí đã lớn mạnh và sáng suốt để nhìn ra được cái bản thể thật chất của vũ trụ. Sự kêu gọi như tiếng còi báo lớn cho toàn thể âm ba vũ trụ đồng mừng chào đón một linh tánh hoàn trí quay về với khối đại linh quang. Nhưng ở giai đoạn này vẫn còn một nhiệm vụ đó là giao phó dẫn độ, tức truyền tri năng ánh sáng tri thức vốn của vũ trụ để lại cho những thể hữu hình có duyên khi tánh linh này đã là thể vô hình khi quay về. Để thông đạt điều này tánh linh phải đáo hạ nhiều kiếp vào nhiều thân xác mang nhiều cái tên để giúp đáo truyền cho nhân sanh hữu hình, hữu duyên, hữu phận. 


Chu kì 7 :

XXI. The World

The World

Đây là giai đoạn cuối, giai đoạn trở về hoàn tôn chí đỉnh với Khối Đại Linh Quang Toàn Năng Toàn Giác.

Content Protection by DMCA.com